Nghề ‘Ăn ong’ ở rừng U Minh Hạ

Nghề gác kèo ong ở rừng quốc gia U Minh Hạ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nghề truyền thống từ thuở các bậc tiền nhân khai hoang giờ đây trở thành sản phẩm du lịch thu hút du khách gần xa, với hành trình trải nghiệm “ăn ong”.

Theo Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ, toàn vườn quốc gia có đến 25.000ha vùng đệm, 8.257ha là diện tích của vườn nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An thuộc huyện U Minh và các xã Khánh Bình Tây Bắc, Trần Hợi thuộc huyện Trần Văn Thời.

Hệ sinh thái rừng tràm cả nước duy nhất chỉ còn lại tại Cà Mau với khoảng 3.000ha là chưa bị con người tác động. Nơi đây cứ mỗi khi hoa tràm kheo sắc là bắt đầu mùa “kiếm cơm” của những người dân làm nghề gác kèo ong. Ở vùng rừng U Minh Hạ, nói đến nghề gác kèo ong, gia đình ông Trần Văn Nhì khá nổi tiếng, bởi hơn 40 năm trong nghề, ông vẫn giữ được nguyên hồn cốt của nghề “ăn ong” từ xưa đến nay.

Ông Út Nhì kể khi còn nhỏ xíu, thấy cha đi gác kèo, ông đã mê nhưng không được đi cùng. Nhiều lần, ông cùng đám bạn phải lén theo chân người lớn để học nghề. Rồi cũng tay cây, tay dao, ông cùng các bạn vào những đám sậy gần nhà gác kèo. “Ong thời đó nhiều vô kể, người lớn gác 10 cây kèo ăn 9 cây. Nhưng với tài học lóm, đám trẻ tụi tui gác hơn chục cây kèo chỉ có một ổ ong nhỏ xíu. Lần đầu “ăn ong”, mỗi đứa bị ong đốt hơn chục mũi” – ông Út Nhì nhớ lại.
Mãi đến năm 12 tuổi, ông Út Nhì mới được ba cho theo học nghề. Theo thời gian, ông được truyền dạy từ cách quan sát, chọn điểm làm kèo cho đến cách làm kèo. Đam mê, chăm chút học nghề nhưng cũng mất khoảng 10 năm sau ông mới được xem là thợ “ăn ong” chuyên nghiệp.
Cây tràm U Minh Hạ nhiều năm nay chưa đem đến ấm no cho người dân. Mùa khô là thời điểm thích hợp nhất đối với những người chuyên đi gác kèo lấy mật ong ở miệt rừng U Minh. Song khi được hỏi về lịch sử nghề “ăn ong”, chú Út Nhì lắc đầu nguây nguẩy. Từ nhỏ, chú Út đã theo cha, chú vào rừng lấy mật ong tràm. Trong hành trình mưu sinh ấy, con chữ bị đánh rơi dưới bìa rừng. Nhưng bù lại, cái nghề gác kèo ong thì ngày càng thạo.
Mùa vụ gác kèo ong phụ thuộc vào mùa hoa tràm trổ bông nhiều, thuận nhất là mùa khô, từ giữa tháng chín đến tháng 3 năm sau. Trong khi đó, mùa nước từ tháng năm đến tháng tám âm lịch, bông tràm không nhiều bằng mùa hạn. Bởi vậy, sản lượng ong cho mật vào mùa hạn thường cao gần gấp hai lần so với mùa nước. “Với 260 kèo ong, bình quân mỗi năm gia đình tôi thu từ 400 đến 500 lít mật”, anh Chơn chia sẻ.

“Ăn ong” là cách nói của người dân địa phương về hành trình lấy mật ở tổ ong. Anh Phạm Duy Khanh, người dân sống ở U Minh Hạ và làm du lịch từ nghề gác kèo ong, cho biết: “Người thợ khi lấy mật ở tổ ong thường thưởng thức tại chỗ một phần mật và tàng ong non để thẩm định chất lượng mật cũng như tự thưởng cho mình. Bởi vì ăn ong ở trong rừng bao giờ cũng ngon hơn khi đem về nhà”.

Mật ong rừng U Minh Hạ là đặc sản Cà Mau, nổi tiếng với chất lượng khó nơi nào sánh được. Bởi lẽ chỉ có loài ong hút mật hoa tràm mới có thể cho loại mật màu vàng trong vắt thoang thoảng mùi hương hoa dịu nhẹ cùng vị ngọt tinh khiết. Đặc biệt, đàn ong chỉ về làm tổ khi rừng tràm được trồng gần gũi tự nhiên trên diện tích rộng, rậm rạp. Với những khu rừng tràm bạt ngàn xanh tốt quanh năm, rừng quốc gia U Minh Hạ là nơi trú ngụ lý tưởng của loài ong.

Đặc biệt, vào thời điểm hoa tràm nở rộ, rất nhiều đàn ong mật bay về làm tổ. Nắm bắt được tập tính này, gia đình anh Phạm Duy Khanh đã trồng tràm trên diện tích 60ha, tạo được môi trường sống thu hút đàn ong về và gìn giữ nghề gác kèo ong.

Theo chia sẻ của người dân địa phương, mùa “ăn ong” thường bắt đầu từ khoảng tháng 3 trở đi, thời điểm thời tiết hanh khô, nắng nóng thích hợp để hoa tràm nở và ong làm mật. Trước thời điểm này khoảng vài tuần, người dân đã chuẩn bị gác kèo để ong làm tổ. Bộ kèo này thông thường được làm từ cây tràm, thân suông, có đường kính từ 10-15cm, lột sạch vỏ, khô ráo. Kèo được gác theo hình mái nhà và thích hợp đặt tại vị trí có ánh mặt trời chiếu len lỏi.

Ở miệt rừng xã Nguyễn Phích có khá nhiều hộ cùng nghề như gia đình của chú Út Nhì. Tính luôn gia đình chú Út Nhì, trong hợp tác xã hiện có 40 xã viên, gác hơn 7.200 kèo ong trong khu rừng rộng 520ha. Nhờ có diện tích rừng nằm trong Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau cho nên các hộ xã viên của hợp tác xã được Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển hỗ trợ vốn, tập huấn kỹ thuật, được trang bị dụng cụ bảo hộ cần thiết.

Chú Út Nhì tiết lộ, ong vùng này hút nhụy hoa tràm, cho nên mật có màu hơi đỏ. Trong khi đó, ở khu rừng nguyên sinh Vườn quốc gia U Minh Hạ, do ong hút nhụy hoa của nhiều loại cây hỗn tạp cho nên mầu mật vàng óng. Nơi nào trồng nhiều cây keo lai, mật ong cũng có màu đỏ nhẹ nhưng để lâu ngày sẽ có màu sậm hơn.

Thời gian ong làm tổ từ khoảng 20-30 ngày. Sau đó, người dân sẽ thăm chừng và đi lấy mật vào thời điểm thích hợp khi tổ ong đã hình thành. Để lấy mật, người thợ phải mang theo bình phun khói hoặc đuốc con cúi bằng xơ dừa, quần áo dài tay, lưới trùm đầu, bao tay, dao và các dụng cụ chứa tổ ong và mật. Thông thường, người thợ dùng dao cắt, tách phần mật ra khỏi phần tàng, họ chừa lại khoảng 1/3 tàng để ong làm tổ mới. Anh Phạm Duy Khanh chia sẻ: “Tập quán của ong khi lớn lên sẽ tách đàn làm tổ mới, do đó nó sẽ tiếp tục cho mật. Một tổ như thế này, nếu khai thác tốt có thể lấy mật từ 3-4 lần”.

Sau khi cắt lấy tàng ong ra khỏi tổ thì vắt hoặc ép lấy mật. Mỗi tổ ong trung bình cho khoảng 3-5 lít mật, có tổ cho đến 10 lít. Vào mùa khô mật ong nhiều và chất lượng tốt hơn mùa mưa. Khi nghề gác kèo ong được khai thác thành sản phẩm du lịch, du khách sẽ được trải nghiệm hành trình vào rừng lấy mật cùng những người thợ địa phương.

Nghề gác kèo ong chủ yếu nhờ vào năng khiếu, kinh nghiệm của từng người đi ăn ong, ví như cách chọn loại cây để làm kèo, địa điểm để gác kèo…. Song, phải bảo đảm được nguyên tắc “một phần nắng, hai phần mát”. Cụ thể, phải chọn nơi gác kèo có trảng sậy, cả nắng sáng và nắng chiều đều rọi được vào một phần của kèo ong.

Khi thu hoạch ong rừng, dân phong ngạn không bao giờ cắt hết tàng ong trên kèo ong mà lúc nào cũng chừa lại một góc tàng ong để con ong không bỏ tổ. Đó cũng được coi là một cách làm “có hậu”, giống như sống ở đời, phải có trước có sau.

Vùng Tây Nam Bộ có 2 mùa nắng và mưa. Vào mùa ăn ong từ tháng 12 đến tháng 6, theo thợ gác kèo ong ngồi ghe chạy sâu vào rừng tràm, bạn sẽ nhìn thấy những tổ ong ẩn hiện giữa các tầng lau sậy và cây tràm chằng chịt. Sau khi dùng bùi nhùi un khói, bầy ong bị ngạt khói lập tức bay vút lên, để lộ ra tổ ong với tàng mật căng mọng.

Thợ gác kèo ong nhanh tay cắt lấy tàng mật, hứng vào thùng rồi tất cả “rút quân” nhanh để tránh bị ong phản kèo. Ra tới bìa rừng, bạn có thể ngồi nhấm nháp một miếng ong non trắng sữa chấm với mật ong vàng tươi, óng ánh như mứt cam. Vị ngọt béo đê mê tan nơi đầu lưỡi sẽ là những trải nghiệm thú vị cho bạn.

Hành trình này mang đến nhiều thú vị, không chỉ có cảm giác hồi hộp len lỏi qua những cánh rừng, đầm nước; mà du khách còn được thưởng thức mật ong tại chỗ. Ong non cũng được chế biến thành những món ăn độc đáo. Đó là gỏi ong non, bánh xèo nhưn ong non, cháo ong non, mắm ong non hay ong non chiên giòn. Đây là điểm đặc biệt chỉ có thể trải nghiệm trực tiếp tại rừng U Minh Hạ.

Gác kèo ong là nghề đặc trưng của vùng rừng U Minh Hạ không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn mang đậm bản sắc văn hóa địa phương. Từ đó hình thành một sản phẩm du lịch đang ngày càng thu hút nhiều du khách đến Cà Mau.

Đi du lịch Cà Mau, du khách còn được vào tận nơi, cùng người dân địa phương đi dã ngoại thực tế, khám phá, trải nghiệm nghề gác kèo ong. Mật ong đã quý, nhưng mật ong được tạo ra bằng hoa tràm của rừng U Minh Hạ thì càng quý hơn. Rừng U Minh cách trung tâm thành phố Cà Mau khoảng 30km.

Từ thành phố Cà Mau, bạn đi theo đường Ngô Quyền – Võ Văn Kiệt – sau đó theo biển chỉ dẫn tới rừng U Minh Hạ (giờ có Google map chắc cũng dễ tìm). Đến Rừng U Minh Hạ bạn sẽ có những trải nghiệm vô cùng thú vị bởi những điều hoang sơ độc đáo mà không nơi nào có được.

Tin Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *